Mưu

Trung Quốc muốn gì?

Khi Trung Quốc một lần nữa trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, nước này mong muốn nhận được sự kính trọng như đã từng có từ hàng thế kỉ trước. Nhưng Trung Quốc không biết phải đạt được nó và cảm thấy xứng đáng như thế nào.

MATTHEW BOULTON, cộng sự đã cùng James Watts phát triển động cơ hơi nước và cũng là một trong những nhà công nghiệp vĩ đại nhất thế kỉ 18, đã không hề nghi ngờ về tầm quan trọng của việc thiết lập Đại sứ quán Anh đầu tiên tại triều đình Trung Hoa. Trong bức thư gửi đến James Cobb, thư kí của Công ty Đông Ấn, Boulton đã viết “Tôi nhận thấy rằng, tình hình hiện tại đang ở thế thuận lợi hơn bao giờ hết để chúng ta giới thiệu sản phẩm của mình vào thị trường rộng lớn nhất thế giới.”

Theo Boulton, với cơ hội to lớn này, trong nhiệm vụ đến Bắc Kinh năm 1793, George Macartney nên mang theo một “sự lựa chọn đa dạng các hàng hóa mẫu ở mọi chủng loại, phục vụ cả mục đích trang trí và sử dụng.” Khi giới thiệu nhiều hàng hóa như thế cho Hoàng đế, các quần thần và người dân, Đại sứ quán của Macartney có thể nắm được nhu cầu của người Trung Quốc. Từ đó, các nhà máy ở Birmingham của Boulton và của các bạn ông có thể sản xuất hàng loạt những mặt hàng mong muốn và phục vụ lợi ích của mọi đối tượng.

Nhưng sự việc đã không diễn ra như mong đợi của người Anh. Hoàng đế Trung Hoa chấp nhận những món quà của Macartney và khá hứng thú với một vài món đồ, chẳng hạn, mô hình các tàu chiến hạng nhất của Anh là những món đồ được Hoàng đế đặc biệt chú ý. Tuy nhiên, Hoàng đế chỉ coi giao dịch này là một sự cống nạp, chứ không phải là hoạt động thương mại. Các quần thần nhìn nhận chuyến thăm của các đại diện phía Vua George giống như việc Bộ Lễ của triều đình cho phép đặc sứ từ Hàn Quốc và Việt Nam tới bái kiến để bày tỏ lòng kính trọng và thuần phục đối với Đấng Thiên tử trị vì thiên hạ. (phụ trách quan hệ với những nước ngoại bang kém văn minh hơn ở châu Á là nhiệm vụ của Cục quan hệ láng giềng (với những dân tộc mông muội và man rợ))

Do đó, Hoàng đế Trung Hoa không chấp nhận lời đề nghị “xúc phạm” của Macartney khi muốn coi Thiên tử Trung Hoa và Vua George ngang hàng. Hoàng đế công khai bày tỏ sự hài lòng trước lễ vật từ Anh Quốc và cho rằng đây là lẽ thường khi có một nước “chư hầu” từ xa xôi đến. Nhưng Hoàng đế không coi chuyến thăm này là khởi đầu cho một quan hệ giao thương mới: “Chúng ta chưa bao giờ coi trọng mấy món đồ tinh xảo, và cũng không mảy may có nhu cầu hàng hóa từ nước các người…Mấy thứ đồ quý hiếm và những thiết bị các người khoe là công phu ta cũng không thiết.”

Các yêu cầu của Macartney về việc mở thêm nhiều cảng để giao thương (bởi Công ty Đông Ấn đang bị giới hạn hoạt động ở Quảng Châu, hay còn được châu Âu gọi là Canton[1]) và mở các kho hàng ở Bắc Kinh đã bị từ chối thẳng thừng. Vào thời điểm đó, Trung Quốc không hề đóng cửa với thế giới bên ngoài như Nhật Bản. Ngược lại, nước này quan hệ với mọi quốc gia láng giềng. Nhưng Trung Quốc đã không nhận thấy những nước láng giềng này có thể mang đến nhiều lợi ích cho mình.

Khi nhìn lại, Trung Quốc đã nên có một sự quan tâm chủ động hơn đến các vấn đề ngoài quốc gia. Nước này đã không ý thức được rằng cuộc cách mạng kinh tế, công nghệ và văn hóa đang diễn ra ở châu Âu và lan ra toàn thế giới. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản thuộc địa đã mang đến thách thức lớn nhất cho Trung Quốc. Đế quốc Trung Hoa mà Macartney ghé thăm đã từng là thực thể chính trị đông đúc và là nền kinh tế lớn nhất hành tinh trong hơn 2000 năm, bất kể một vài giai đoạn bất ổn, sụp đổ và xâm lược. Tuy nhiên, hai thế kỉ sau thời hoàng kim đó, mọi sự đều đảo lộn. Trung Quốc đã trở thành một quốc gia nửa thuộc địa, bị làm nhục, bị làm cho nghèo đói và bị giằng xé bởi nội chiến và cách mạng.

Ấy vậy mà đến nay, Trung Quốc đã trở thành một quốc gia như kỳ vọng của Macartney: một thị trường tương đối mở với nhiều đối tác muốn giao thương. Ngược với những đánh giá của Boulton trước kia, hai thập kỉ qua đã cho Trung Quốc điều kiện thuận lợi nhất để đem hàng hóa của mình đến những thị trường rộng lớn nhất thế giới. Việc này đã mang đến sự thịnh vượng rõ rệt cho Trung Quốc. Về sức mua, nước này đã sẵn sàng lấy lại vị thế của nền kinh tế lớn nhất thế giới. Dù vẫn còn hàng trăm triệu người đang sống trong cảnh nghèo đói, Trung Quốc vẫn là quốc gia của những sân bay hoành tráng thiết kế bởi Nornam Foster[2] và những trang trại năng lượng mặt trời trong thế kỉ 21. Bắc Kinh đã đưa máy thăm dò lên mặt trăng và còn hi vọng có thể đưa con người lên sau đó.

Giờ đây, đất nước này đang muốn có nhiều hơn. Nhìn chung, Trung Quốc biết mình cần gì. Trong nước, người dân muốn tiếp tục tăng trưởng còn lãnh đạo muốn sự ổn định mà tăng trưởng đem lại. Trên trường quốc tế, người dân và Đảng Cộng sản muốn có được sự tôn trọng và tầm ảnh hưởng phù hợp với tầm vóc quốc gia. Bởi vậy, một mặt Trung Quốc muốn giữ nguyên trật tự hiện tại để duy trì phát triển, mặt khác nước này lại muốn trật tự thay đổi theo một hướng mới.

 

Việc tính toán để tạo ra thay đổi trong sự không biến đổi, sẽ là một nhiệm vụ khó khăn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Công cuộc này lại càng trắc trở hơn trước tình cảnh sự lãnh đạo theo chủ nghĩa Lê-nin đang phải giải quyết một sự bất đồng lớn trong nước giữa sự thay đổi và không biến đổi, bởi Đảng Cộng sản đang cố gắng nắm quyền kiểm soát xã hội, trong khi bản thân xã hội đã biến đổi kể từ khi kinh tế phát triển. Hơn nữa, công cuộc này cũng trở nên nguy hiểm hơn khi đất nước đang tiến đến một hình thái hung hăng của chủ nghĩa dân tộc và được điều hành bởi những lãnh đạo sẵn sàng phản ứng với mọi mối đe dọa tiềm tàng (theo nhận thức của họ) và xem thường những mối đe dọa đó với sự tự tin quá đà.

Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết hậu cải cách đã không chỉ dạy các lãnh đạo Trung Quốc bài học về hiểm họa của cải cách chính trị mà còn mang đến kinh nghiệm về sự không đáng tin rõ ràng của nước Mỹ. Sau Liên Xô, liệu Mỹ có tiếp tục làm hại Trung Quốc? Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã từng bị làm cho hoảng sợ bởi những hỗn loạn từ sự kiện mùa xuân Ả-rập. Dường như ông Tập đang muốn cải tổ Đảng Cộng sản để đảng có thể tiếp tục nắm quyền, đồng thời gạt bỏ mọi ý tưởng về đa nguyên chính trị và tư pháp độc lập. Sự củng cố quyền hành nội bộ này đang ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Trung Quốc đang xây dựng đường băng trên các đảo tranh chấp ở Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa), đưa giàn khoan dầu vào vùng biển (vùng nước) tranh chấp và xác định lại không phận mà không có một chương trình cụ thể để đưa những yêu sách này thành tình trạng được công nhận như dự định. Việc này đã gây rắc rối cho các nước láng giềng và cho cả Mỹ. Khi đặt tham vọng tái thiết của Trung Quốc (với các bước đi và hậu quả chưa rõ ràng) bên cạnh sự kiên quyết của Mỹ trong việc ngăn chặn tham vọng đó ảnh hưởng đến lợi ích của mình và các đồng minh (với biện pháp đáp trả cũng chưa được nêu rõ), chúng ta sẽ có một tình trạng cạnh tranh khó có thể xác định. Chính bởi tính mập mờ này, cạnh tranh Trung-Mỹ sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm. Shi Yinhong của Đại học Renmin ở Bắc Kinh, một trong những nhà bình luận chính sách đối ngoại lỗi lạc nhất Trung Quốc, nói rằng năm năm trước, ông còn khá chắc về việc Trung Quốc sẽ trỗi dậy hòa bình như những tuyên bố của chính nước này. Nhưng đến nay, Shi nói rằng ông thực sự không chắc chắn về đường hướng phát triển của Trung Quốc.

CÚ TRƯỢT DÀI

KHI Trung Quốc lần đầu được thống nhất năm 221 TCN, Đế chế La Mã còn đang gây chiến để xâm lược Carthage ở phía Tây Địa Trung Hải. Rome đã đạt đến cực thịnh rồi sụp đổ. Trung Quốc cũng sụp đổ, thậm chí là nhiều lần, nhưng mô hình của Trung Quốc đã định ra rằng nước này phải luôn thống nhất. Đến cuối triều Hán, năm 220 SCN, triều đình đã thể chế hóa những lời giáo huấn của Nho giáo, một hệ tư tưởng nhấn mạnh giá trị của thứ bậc xã hội, đạo đức cá nhân, và trở thành nền tảng để trị quốc. Đến thời nhà Tần, thế kỉ 7, khi Muhammand trở về Mecca, Trung Quốc đã trở thành một trong những nền văn minh giàu có và tiếng tăm nhất thế giới. Sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc đã làm lu mờ nền kinh tế và quân sự của các dân tộc láng giềng. Sự giàu có về mặt văn hóa và trật tự luân lý của Nho giáo đã làm sự vượt trội của Trung Quốc được chấp nhận một cách tự nhiên. Trung Quốc trở thành mô hình đáng học tập của các nước. Kyoto ở Nhật Bản đã được thiết lập như Trường An (nay là Tây An) thế kỉ 8 của Trung Quốc, còn Hàn Quốc và Việt Nam thì áp dụng bộ chữ viết của Trung Quốc.  Những lời dạy Nho giáo đã trở thành và đến nay vẫn còn là nền tảng triết học cho nhiều nền văn hóa ở châu Á. Giống như Hoàng đế đương nhiên đứng ở vị trí tối cao của hệ thống thứ bậc Trung Quốc, nước này cũng từng ngồi trên đỉnh cao của thế giới.

Macartney đặt chân đến Trung Quốc khi nó đang ở giai đoạn đỉnh cao của triều Thanh. Giữa thế kỉ 18, Hoàng đế Đại Thanh đã thu nạp Tây Tạng và Turkestan[3] (đông Turkestan thuộc Trung Quốc, sau này trở thành Tân Cương) vào đế chế của mình bằng các chiến dịch quân sự quyết liệt và các cuộc diệt chủng bộ tộc Dzungars[4] (người Chuẩn Cát Nhĩ), đưa sự kiện tàn sát này lên đến đỉnh điểm của lịch sử. Dù dân chúng sống vô cùng cơ cực, cuộc sống chốn hoàng cung lại rất xa hoa. Nhưng bất kể sự giàu có và cả (có thể là bởi) sự khước từ hống hách Hoàng đế Trung Hoa dành cho người Anh, Macartney đã nhận thấy quốc gia này sẽ không trường tồn như những người trị vì muốn. Ông viết rằng Trung Quốc là một “con tàu chiến hạng nhất điên cuồng, có thể làm run sợ các nước láng giềng chỉ bằng vẻ ngoài và sự đồ sộ của nó”. Macartney cảm nhận được một sự mong manh và những vấn đề có thể xảy đến với Trung Quốc. “Con tàu này sớm muộn cũng sẽ bị đắm và dạt vỡ vào bờ thành từng mảnh.”

Nguyên nhân cấu trúc cho sự suy yếu sau đó của Trung Quốc và sự sụp đổ của đế chế này đã được bàn luận rất nhiều. Nhà sử học Mark Elvin gọi nguyên nhân này là “bẫy cân bằng tuyệt đối”, đó là khi quốc gia vận hành ở trạng thái cân bằng cao, với lao động rẻ và chính quyền hiệu quả, đạt được sự tương xứng giữa cung và cầu đến nỗi không có động lực đề đầu tư phát triển công nghệ. Các học giả khác cho rằng châu Âu đã hưởng lợi nhờ vào cạnh tranh và giao thương với nhau, từ đó thúc đẩy khả năng trang bị vũ khi và nhu cầu tìm kiếm thị trường mới. Nhà sử học Mỹ Kenneth Pomeranz đã lập luận rằng sự tiếp cận đến hàng hóa giá rẻ từ châu Mỹ là một nhân tố thúc đẩy công nghiệp hóa ở Anh và châu Âu, điều mà Trung Quốc không có. Châu Âu cũng may mắn khi có những mỏ than gần trung tâm công nghiệp, trong khi các mỏ than và nhà máy của Trung Quốc lại cách xa nhau hàng nghìn kilômét, một vấn đề nước này vẫn cần phải khắc phục cho đến ngày hôm nay.

Vì một vài hay toàn bộ lý do kể trên, và có lẽ là cả những lý do khác, Trung Quốc đã không tiến hành công nghiệp hóa như phương Tây. Châu Âu đã học hỏi về kĩ thuật làm thuốc súng từ Trung Quốc thời Trung đại, nhưng đến thế kỉ 19, họ đã tiến bộ hơn Trung Quốc rất nhiều khi biết vận dụng thuốc súng vào các mục đích khác (đó là chế tạo súng, đạn pháp, còn Trung Quốc chỉ ở mức đơn thuần là làm pháo hoa). Những năm 1830, Anh đã cố gắng mở cửa thị trường châu Âu bằng thuộc phiện, thứ thuốc mà người ta có thế bị dẫn dụ và thèm muốn hết lần này đến lần khác, bất kể họ đã từ chối nó thế nào. Trung Quốc đã nỗ lực chấm dứt việc buôn bán thuốc phiện; Anh Quốc sau đó đã gây chiến với Trung Quốc và giành chiến thắng. Cuối cùng, Hiệp ước Nam Kinh được kí kết năm 1842, Anh chiếm Hồng Công và buộc Trung Quốc mở cửa. Trung Quốc từ đây rơi vào vòng xoáy bị đánh bại, bị phủ nhận và trở thành một đất nước nửa thuộc địa. Có lẽ nhục nhã nhất là sự kiện những năm 1890, khi Trung Quốc yếu kém phải chịu thất bại trước Nhật Bản, một dân tộc có nền văn hóa dựa trên nền tảng văn minh Trung Quốc nhưng đã nhanh chóng chuyển đổi đất nước bằng những tham vọng và công nghệ của phương Tây. Trung Quốc đã mất đi vị trí trung tâm của châu Á.

Nhiều trong số những sự kiện diễn ra kể từ cuộc cách mạng cộng hòa năm 1911, như sự trỗi dậy và chiến thắng của chủ nghĩa Cộng sản Mao Trạch Đông năm 1949 và giờ là “chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Trung Hoa”, đã trở thành một cách phản ứng của Trung Quốc đối với sự mất mát của cải, quyền lực, và vị thế, cũng như khao khát được phục hồi sự kính trọng mà lãnh đạo lẫn nhân dân Trung Quốc đều tin là điều đất nước đáng được hưởng.

Các nhà cách mạng và cải cách cuối thế kỉ 19 tin rằng văn hóa truyền thống Trung Quốc là một vấn đề. Trong nỗ lực tránh bị chia cắt bởi các cường quốc thuộc địa một lần nữa, Trung Quốc bắt đầu phủ nhận những di sản văn hóa của chính mình; nhiều người đã thực sự tin rằng, để cứu đất nước, họ phải hủy diệt nền văn hóa. Năm 1905, hệ thống thi cử Nho giáo từng là trung tâm của việc đào tạo trong chính phủ trong suốt 2000 năm đã bị xóa bỏ. Hoàng đế nhà Thanh cuối cùng và toàn bộ hệ thống đế quốc cũng bị lật đổ năm 1901. Nhưng khi không có những thể chế hiện đại hỗ trợ chính phủ mới, nền cộng hòa non trẻ sớm sụp đổ và đất nước lại một lần nữa rơi vào hỗn loạn.

Khi Chủ tịch Mao thống nhất Trung Quốc năm 1949, những người Cộng sản tiếp tục càn quét nền văn hóa Trung Hoa mạnh mẽ hơn. Các thể chế và đường lối từng ngự trị được thay thế bởi những tư tưởng từ bên ngoài, không khác gì việc người châu Âu vứt bỏ mọi vết tích của bộ luật La Mã, triết học Hy Lạp và niềm tin vào Cơ đốc giáo. Dưới thời Mao Trạch Đông, phong trào bài Nho phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, nhận thức về Trung Quốc là một nền văn minh vĩ đại không bị xóa bỏ mà còn tồn tại đến ngày nay. Việc này đã làm đất nước phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng bản sắc trầm trọng đến tận bây giờ.

Cùng với đó, Trung Quốc cùng từ bỏ quan điểm thời đế quốc rằng thế giới xung quanh phải cống nạp đến mình. Thay vì đó, nước này đi theo tư tưởng đưa ra bởi Hòa ước Westphalia[5]: Các nước là những quốc gia nganh bằng có chủ quyền và khẳng định sự vượt trội/nổi bật của mình bằng số lượng của cải và sức mạnh nước đó sở hữu, chứ không phải bằng hệ thống tôn ti trật tự xét theo phẩm chất. Trung Quốc giờ đây phải tự nhìn nhận mình là một quốc gia cùng với các chủ thể khác. Cùng lúc, theo như cách nói của học giả Mỹ Lucian Pye, đó là tình cảnh “một nền văn mình giả làm một quốc gia”. Lịch sử, diện tích, và cảm giác về sự quyền thế và hùng mạnh của Trung Quốc mang đến sự phát triển đang kể trong hai thập kỉ qua đã thúc đẩy nước này đến những tham vọng to lớn hơn, và lấy lại vị thế mà các nước phương Tây từng đạp đổ. Lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc tin rằng thời khắc của đất nước một lẫn nữa lại đến.

MỞ RỘNG GIỚI HẠN

MẶC DÙ mang những tham vọng này, Trung Quốc không muốn làm bá chủ thế giới. Nước này không có nhiều hứng thú đối với nền chính trị bên ngoài châu Á, trừ vấn đề cung cấp vật liệu thô và thị trường cho kinh tế thế giới. Những đánh giá rằng Trung Quốc đang thiết lập một chế độ của chủ nghĩa tân thuộc địa ở châu Phi chỉ là sự phóng đại. Cổ phiếu đầu tư trực tiếp của Trung Quốc còn ít hơn rất nhiều của Anh, Pháp và chỉ bằng 1/3 lượng cổ phiếu của Mỹ. Mặc dù tầm ảnh hưởng của Trung Quốc chắc chắn đang tăng lên, sự tham gia của Trung Quốc vào châu Phi không mang tính đế quốc áp đặt một chiều, mà mang tính giao dịch hai chiều. Đây là đánh giá của Deborah Brautigam từ Đại học Johns Hopkins. Khi công ty của Nhật Bản mua lại Trung tâm Rockefeller những năm 1980s, “Người Mỹ tin rằng Nhật đã mua cả Manhattan”, Bà Brautigam nói. “Điều này cũng giống như những hoạt động của Trung Quốc ở châu Phi. Vấn đề nằm ở nhận thức.” Trong cuốn sách sắp tới, bà đã điều tra 20 báo cáo công bố về việc mua lại đất của các doanh nghiệp Trung Quốc tại châu Phi, được cho là 5,5 triệu héc-ta nhưng thực tế con số này chỉ là 63.400 héc-ta.

Những người đốc công Trung Quốc lạm dụng công nhân châu Phi, các công ty Trung Quốc khai mỏ bât hợp pháp và làm tổn hại hoạt động thương mại địa phương bằng hàng hóa Trung Quốc giá rẻ. Đây chỉ là những vấn đề ở những doanh nghiệp làm ăn kém chất lượng, chứ không phải chiến lược lớn của chính phủ. Không giống như những cường quốc thuộc địa của châu Âu trước đây, Trung Quốc không hề có tầm nhìn chiến lược về việc đẩy lùi các nước khác can dự vào châu Phi, hay có những khẩu hiệu giả nhân giả nghĩa như “nhiệm vụ khái hóa văn minh”. Khi nhận thấy hình ảnh của mình bị nhìn nhận tiêu cực, Trung Quốc phản ứng một cách thực dụng: xây bệnh viện, chi trả cho các chương trình phòng chống sốt rét, xây đường sắt. Tại châu Phi và châu Mỹ La-tinh, trung Quốc tập trung đầu tư vào các công ty địa phương, chứ không chỉ thu mua đất và tài nguyên. Trung quốc cũng bắt đầu tận dụng sức mạnh mềm thông qua việc mở các viện Không Tử trên toàn thế giới và thường cố gắng một cách khá vụng về để chứng tỏ rằng Trung Quốc và văn hóa Trung Hoa rất hiền hòa và yêu hòa bình.

Theo Kerry Brown của Đại học Sydney, Trung Quốc “không phải một nền văn hóa truyền giáo, cũng không phải một siêu cường đi phổ biến các giá trị”. “Nó không cố biến dân tộc khác thành người Trung Quốc”. Luận điệu của chính sách đối ngoại Mỹ và thường là cả nội dung của những chính sách này được định hình bởi những nhà tiên phong cho dân chủ và tự do. Nhưng Đảng Cộng sản ít cam kết với các giá trị phổ quát đó. Quan hệ đồng minh được xây dựng dựa trên những giá trị chung; nếu thiếu đi điều này, sẽ rất khó để một quốc gia “kết bạn” trong quan hệ quốc tế. Gây sợ hãi có thể là một dạng thay thế tôn kính cho tình hữu nghị, và Trung Quốc đã bắt đầu làm thế giới sợ và lo lắng.

Nho giáo với sự tập trung vào thị tộc và nỗi sợ gây ra bởi chủ nghĩa Cộng sản đã thuyết phục người rung Quốc chỉ quan tâm đến công việc của gia đình mình: đèn nhà ai nhà nấy rạng, như một câu thành ngữ đã nói (chỉ quét tuyết trước cửa nhà bạn và mặc kệ sương giá trên mái nhà hàng xóm). Thái độ này cũng được đưa vào nền chính trị quốc tế, không can dự vào các vấn đề không của Trung Quốc. Đây cũng một phần là bởi bản thân Trung Quốc đã phải đối mặt với những vấn đề quy mô quốc tế ngay trong lãnh thổ của mình: Trung Quốc có số người nghèo chỉ đứng sau Ấn Độ. Trong khi 160 triệu công dân đang chịu mức sống ít hơn 1.25 đô-la mỗi ngày, thì nhiều người khác bắt đầu phàn nàn công khai về các vấn đề nội bộ quốc gia. Bởi vậy, nhu câu phát triển của châu Phi trở nên ít cấp bách hơn đối với Trung Quốc.

Tương tự, chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng đang gặp căng thẳng. Nước này đang muốn can dự ít nhất có thể vào các vấn đề nước ngoài, trừ những công việc giúp gia tăng hình ảnh cường quốc. Trung Quốc chỉ hành động ở bên ngoài khi lợi ích quốc gia bị đe dọa, chứ không vì những mục đích phổ quát của thế giới. Hải quân Trung Quốc đã bắt đầu tham gia vào các hoạt động chống cướp biển ở Sừng châu Phi và lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc tại châu Phi. Năm 2011, Trung Quốc đã cử tàu đến hợp tác sơ tán 36.000 công nhân Trung Quốc khỏi Libya. Những hành động như thế sẽ tiếp diễn khi các công ty của Trung Quốc được thiết lập ở nhiều khu vực hơn trên thế giới, nhưng chỉ khi các hoạt động đó tốn ít chi phí và tuyệt đối cần thiết. Nhận thức sâu sắc được điểm yếu trong nước và những thiệt hại gây ra bởi sự quân sự hóa của chính sách đối ngoại Mỹ những năm gần đây đã kiềm chế/hạn chế Trung Quốc mạo hiểm vươn ra ngoài.

Trong một loạt các lĩnh vực, những vấn đề Trung Quốc phản đối rõ ràng nhiều hơn ủng hộ. Nước này đã phủ quyết sự can dự của phương Tây vào Syria và Darfur, cũng như không thể hiện lập trường khi Nga sáp nhập Crimea (dù trong nước cũng đang có một số xu hướng ly khai khỏi trung ương). Tại hội nghị thượng đỉnh về khí hậu năm 2009 tại Copenhagen, Trung Quốc đã đảm bảo không có thỏa thuận nào được kí liên quan đến việc yêu cầu nước này làm chậm lại sự tăng trưởng công nghiệp. Ở nhiều trường hợp khác, Trung Quốc cũng phản đối và ngăn chặn nhiều hơn là thể hiện tinh thần xây dựng đối với các vấn đề quốc tế. Như một cựu quan chức cao cấp của chính phủ Bush từng nhận định tại hội nghị G20 “Họ (Trung Quốc) thích thể hiện, nhưng chúng ta vẫn đang chờ đợi ý kiến đầu tiên của họ.”

Cựu quan chức này cũng lập luận rằng thế giới cần nhiều sáng kiến và sự tham gia của Trung Quốc hơn. Theo ông, các lãnh đạo Trung Quốc không thích hệ thống đồng minh hiện tại, nhưng lại không đưa ra một hệ thống an ninh tập thể thay thế. Họ nói về chia sẻ hydrocarbon và tài nguyên hải sản ở biển Nam Hoa Đông và biển Hoa Đông, nhưng không đưa ra một đề xuất rõ ràng nào. Họ cáo buộc phương Tây vì can thiệp vào công việc nội bộ của các nước dang phát triển, nhưng lại đang làm trầm trọng tham nhũng và quản trị yếu kém ở các quốc gia họ đang có lợi ích.

Sự thiếu cam kết và can dự vào các vấn đề quốc tế không phải điều bất tường ở các cường quốc mới nổi. Mất cả một cuộc thế chiến để Mỹ có thể tham gia vào vũ đài thế giới. Nhưng sự thiếu vắng một lịch trình có tính liên kết không ngăn cản Trung Quốc mong muốn một vị thế lớn hơn. Mặc dù là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc, một vị trí giành được sau thế chiến hai, Trung Quốc vẫn bất mãn vì thiếu tầm ảnh hưởng trong các tổ chức quốc tế và hiện đang dẫn dắt các quốc gia đang phát triển lớn khác thúc đẩy một thỏa thuận có lợi hơn.

Các quốc gia trong nhóm BRICS gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi chiếm đến 42% dân số thế giới 28% nền kinh tế toàn cầu (xét theo ngang giá sức mua), nhưng lại chỉ có 11% số phiếu tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Tháng 7/2014, Trung Quốc đã thiết lập Ngân hàng Phát triển Mới tại Thượng Hải, với các nước BRICS là thành viên. Đây dường như là một sự thay thế bước đầu cho Ngân hàng Thế giới, mở ra cơ hội cho Hệ thống Bretton Woods của riêng Trung Quốc. Trung Quốc cũng lập nên Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á để cạnh tranh với Ngân hàng Phát triển Châu Á (khởi xướng bởi Nhật Bản).

THỦY QUÁI VÀ LƯỠI CÂU

Tại châu Á, chính những hoạt động chứ không phải trạng thái ám binh bất động của Trung Quốc làm các quốc gia lo lắng, và mối quan ngại của họ là có thể hiểu được. Có lẽ hành động khiêu khích nhất của Trung Quốc là nỗ lực xác lập “đường chín đoạn”, vốn là mấy nét bút mơ hồ vạch ra trên bản đồ xung quanh biển Nam Hoa Đông (biển Đông). Trong phạm vi đường này, Trung Quốc yêu sách mọi lãnh thổ trên mực nước biển, và cả vùng đất lẫn đáy biển. Ngược lại, quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) có xu hướng coi nhiều thực thể trong vùng biển này là đối tượng yêu sách của những quốc gia khác. Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La, một diễn đàn an ninh khu vực hồi tháng 6 tại Singapore, tướng Wang Guanzhong của Trung Quốc đã trình bày rõ ràng rằng dù Trung Quốc tuân thủ UNCLOS, Công ước cũng không thể áp dụng với những trường hợp đã tồn tại trước khi Công ước có hiệu lực, và đường chín đoạn đã được thiết lập từ những năm 1940 còn các đảo ở biển Nam Hoa Đông đã thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ 2000 năm trước.

Một số quan chức khác của Trung Quốc còn cố chấp hơn. Wu Shicun,  Giàm đốc Viện Nghiên cứu biển Nam Trung Hoa Quốc gia, mới đây đã dựa trên đảo Hải Nam phía nam Trung Quốc để chỉ ra rằng UNCLOS được xây dựng theo chỉ đạo của phương Tây và về dài hạn “chúng ta nên xây dựng lại các phương pháp hợp tác mới hợp lý hơn, công bằng hơn và thiết lập một trật tự hàng hải bình đẳng hơn được chỉ đạo bởi chính chúng ta”. Điều này tất nhiên đã gây lo ngại cho Washington. Douglas Paal, cựu quan chức Mỹ hiện đang làm việc tại Quỹ Caregie vì Hòa bình Quốc tế đã thắc mắc “Trung Quốc muốn xỏa bỏ bao nhiêu phần trong số các luật lệ đã có?”

Có lẽ Trung Quốc sẽ không thay đổi quá nhiều các luật lệ, ít nhất là ở thời điểm này. Nhưng theo Lyle Goldstein của Đại học Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ, “Trung Quốc hiểu rằng việc trở thành một cường quốc sẽ rất hỗn loạn và sự chuyển mình này tất yếu sẽ phải chà đạp lên một vài đóa hoa bên cạnh”. Goldstein đánh giá rằng “đây là cái giá mà Trung Quốc sẵn sàng trả.” Những luật lệ, chẳng hạn như những luật lệ nói rằng đường chín đoạn phải được tôn trọng có thể được chấp nhận với các nước không quan trọng trong khu vực. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì đã phát biểu tại cuộc gặp mặt của các cường quốc khu vực tại Hà Nội năm 2010 rằng “Trung Quốc là một nước lớn còn các nước khác là nước nhỏ và đó là sự thật.”

Xét về mặt quân sự, phát biểu của ông Dương hoàn toàn chính xác. Lực lượng vũ trang của của Trung Quốc, nếu không kể đến vị trí đứng đầu về công nghệ, thì cũng chắc chắn là đông đảo nhất và ấn tượng nhất, nhât là bởi họ sở hữu lực lượng tên lửa hạt nhân. Nhưng một vài nước nhỏ xung quanh Trung Quốc lại có một người bạn lớn mang tên nước Mỹ. Với quân đội và các căn cứ tại Nhật Bản và Hàn Quốc, Mỹ đã trở thành một cường quốc thống trị Tây Thái Bình Dương trong 70 năm. Sự hiện diễn của Mỹ ở khu vực chưa hề suy giảm kể từ khi nước này thắng trận trong thế chiến hai hơn 20 năm trước. Trong chuyến đi đến châu Á năm 2011, Tổng thống Obama đã tuyên bố chính sách xoay trục của Mỹ từ Trung Đông sang châu Á.

Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Mỹ sẽ kiên quyết ngăn ngừa nước này gia tăng tầm ảnh hưởng quân sự và chiến lược ở châu Á và rằng Mỹ sẽ kiềm chế và đánh bại Trung Quốc như đã từng làm với Liên bang Xô Viết. Điều trớ trêu là chỉ có Trung Quốc tin rằng chính sách xoay trục đang diễn ra. Các nước Đông Nam Á đã tỏ ra hoài nghi về sự chú trọng của Mỹ dành cho khu vực này, còn các lực lượng phản đối Tổng thống ở Mỹ cũng đánh giá rằng Obama gần như chẳng làm gì để chứng minh cho lời tuyên bố hồi năm 2011 của mình.

 

Đối thoại Shangri-La mới đây cũng chẳng làm gì để xóa tan những lo ngại của Trung Quốc. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đề nghị giúp đỡ các nước láng giềng của Trung Quốc trong việc trang bị quân sự và thúc đẩy thay đổi hiến pháp theo đường lối hòa bình thời hậu chiến để Nhật có thể thi hành chính sách phòng thủ mạnh mẽ hơn trong khu vực. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã ủng hộ ý kiến của ông Abe tại Shangri-La, cáo buộc Trung Quốc về những “hành vi đơn phương gây bất ổn” trong khu vực.

Trung Quốc đã kiên quyết về vấn đề Biển Nam Hoa Đông từ hàng thập kỉ nay, nhưng kể từ khi ông Tập nắm quyền, lập trường của nước này còn trở nên cứng rắn hơn nữa. Những động thái kiểm soát biển trong “vòng phòng thủ thứ nhất” chạy từ Okinawa, qua đài Loan và đến Trường Sa đã làm Trung Quốc xa lánh với gần như mọi nước láng giềng. Theo Brad Glosserman của Diễn đàn Hòa bình Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, một cơ quan tư vấn, “Xây dựng một chính sách đối ngoại tốt hơn để làm hại đến những lợi ích dài hạn của Trung Quốc sẽ vô cùng khó khăn”

Những động thái của Trung Quốc chắc chắn đã được thúc đẩy phần nào bởi tham vọng kiểm soát tài nguyên ở đáy biến. Nhưng bản thân Trung Quốc cũng không nhìn nhận mình đi theo chủ nghĩa bành trướng lãnh thổ đơn thuần. Lãnh đạo Trung Quốc tin vào luận điệu của chính mình rằng các đảo ở biển Hoa Đông và Nam Hoa Đông đã luôn là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Đó là những lãnh thổ mà từ khi Chủ tịch Mao qua đời đã được xác định là phạm vi chủ quyền tối đa dưới triều Thanh, chứ không phải lãnh thổ khiêm tốn trước đó. Và nếu Trung Quốc đang thể hiện mối quan tâm về lãnh thổ một cách kiên quyết, họ không coi hành vi này là sai trái, mà ngược lại còn tốt hơn hành vi của Mỹ, quốc gia được Trung Quốc đánh giá là đối thủ trong khu vực. Theo Trung Quốc, Mỹ khó có thể trở thành một nhà bảo vệ liêm khiết của trật tự quốc tế toàn cầu, bởi Mỹ chỉ hưởng thụ đặc quyền của một siêu cường và những sự phân bổ họ tự đặt ra cho chính  mình. Nước này thậm chí còn không thích sự ràng buộc của các hiệp ước quốc tế hơn Trung Quốc đến nỗi chưa hề phê chuẩn UNCLOS. Với một ít đồng minh, Mỹ đã vượt mặt hệ thống pháp lý quốc tế để xâm lược Iraq.

 

 

Trung Quốc cũng có thể đối chiếu những động thái của mình với tham vọng của Mỹ trước đó. Mặc dù mãi đến thế kỉ 20 Mỹ mới có vai trò toàn cầu, nước này đã xác định vai trò khu vực đầy tham vọng của mình từ một trăm năm trước. Năm 1823, James Monroe đã đề ra chính sách khước từ mọi sự can thiệp vào bán cầu Tây của các quốc gia châu Âu, mọi sự xâm nhập của châu Âu sẽ được nhìn nhận và đáp trả như hành động gây hấn. Theo quan niệm đó, Trung Quốc cũng muốn Đông Á có một Học thuyết Monroe, với sự suy giảm ảnh hưởng từ bên ngoài, cho phép Trung Quốc kiểm soát khu vực một cách dễ dàng. Điểm khác biệt giữa châu Mỹ thế kỉ 19 và châu Á hiện nay là châu Mỹ bấy giờ không có nguồn sức mạnh để thách thức Mỹ và hầu hết các quốc gia đều khá hài lòng với ý tưởng giữ chân châu Âu bên ngoài khu vực. Ít nhất vào những buổi đầu, họ là một bên hưởng lợi từ học thuyết Monroe, chứ không phải là đối tượng bị nhắm đến.

 

Trung Quốc không đến mức hoàn toàn không thỏa hiệp. Dọc theo lãnh thổ biên giới, nước này đã bỏ qua một vài xung đột và tiến hành một số đàm phán, trao đổi. Nhưng phần nào cũng bởi biển Nam Hoa Đông và Hoa Đông có tầm quan trọng chiến lược hơn các vấn đề trên đất liền này. Một phần cốt lõi của tầm quan trọng chiến lược này là khả năng vấn đề chủ quyền Đài Loan cuối cùng cũng phải giải quyết; trên thực tế, vấn đề ngoài khơi kia đang bảo vệ phía sát sườn Trung Quốc phòng khi có một cuộc đụng độ với Mỹ trong tương lai liên quan đến chủ quyền Đài Loan. Tình hình bất ổn hơn bao giờ hết ở Bắc Triều Tiên có thể tạo nên điểm nóng giữa hai quốc gia.

Trong phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh ở California năm 2013 với Tổng thống Obama, Chủ tịch Tập đã nói “Thái Bình Dương rộng lớn đủ chỗ cho hai nước lớn như Mỹ và Trung Quốc,” Cách diễn đạt này không nhằm nhắc đến khả năng cùng tòn tại hòa bình rõ ràng đạt được khi hai nước ở cách nhau đến 10.000 kilômét nước mà nhằm ám chỉ rằng tây Thái Bình Dương là một phạm vi ảnh hưởng hợp pháp của Trung Quốc.

Và nếu những lời này được nhắc lại trước Ngoại trưởng Mỹ John Kerry vào tháng 7 tới (năm?) ở Bắc Kinh, nó dường như lại ám chỉ sự ngang hàng giữa hai quốc gia. Nhưng Trung Quốc cũng hiểu rằng trên thực tế nước này có nhiều lợi thế hơn Mỹ. Một lợi thế đó là Trung Quốc là một chủ thể đơn nhất, nó có thể gây chia rẽ giữa Mỹ và các đồng minh ở khu vực. Học giả Úc Hugh White đã lập luận trong bài viết gần đây của  mình rằng, bằng cách đe dọa các nước châu Á bằng vũ lực, “trong cuộc đối đầu với Mỹ, Trung Quốc đã bắt Mỹ lựa chọn giữa bỏ rơi bạn bè hoặc đánh Trung Quốc.”

Lực lượng vũ trang của Trung Quốc còn thua xa Mỹ. Nhưng Trung Quốc lại có lợi thế khi ra quân ngay tại sân nhà. Mỹ có thể thống trị những vùng biển này bằng các hoạt động không quân và hải quân. Nhưng nếu tên lửa chống tàu của Trung Quốc gây đe dọa đến các hoạt động của Mỹ, chúng có thể làm suy yếu đáng kể khả năng sử dụng sức mạnh của Mỹ mà không làm Trung Quốc mất thêm phí tổn điều động lực lượng hải quân đi xa lãnh thổ. Do đó, lực lượng quân đội của hai bên không hề bất cân đối như người ta vẫn nghĩ nếu chỉ đếm số đội tàu trong khu vực (bởi Trung Quốc chỉ mới đang xây dựng đội tàu đầu tiên, trong khi Mỹ đã có 4 trên 10 đội tàu đang hiện diện ở Thái Bình Dương).

Cũng theo Trung Quốc, ý chí của nước này và Mỹ cũng bất cân xứng. Một nước Mỹ đã chán chường với chiến tranh sẽ không có khả năng sẵn sàng tiêu tốn tiền của và đổ máu để bảo vệ mấy đảo đá không có người sinh sống mà không vì mục đích chiến lược trực tiếp gì. Mỹ có thể nói lớn về những việc nước này sẽ làm, nhưng họ sẽ không dùng đến cây gậy của mình (tức là các biện pháp trừng phạt vũ lực trong chiến lược “cây gậy và củ cà rốt”). Ngược lại, người dân Trung Quốc, với những quan điểm được định hình không chỉ bởi tuyên truyền mà còn bởi chủ nghĩa dân tộc thỉnh thoảng lại được cổ vũ và kích động, rất ủng hộ việc Trung Quốc thể hiện sức mạnh ngoài khơi. Hơn nữa, tổ hợp công nghiệp-quân sự của Trung Quốc còn được kì vọng sẽ tiếp tục được xây dựng lớn hơn, để có một cây gậy tốt hơn. Kể cả khi các lãnh đạo đảng muốn phát triển hòa bình và tuân thủ luật quốc tế như những gì họ đã tuyên bố, thì cái cách họ định hình tinh thần và quan điểm của nhân dân sẽ cản trở họ thực hiện lời hứa với cộng đồng quốc tế này.

Điều này đặc biệt đúng với trường hợp Nhật Bản, đất nước đã nhận lấy vai trò cường quốc khu vực ở châu Á khi Trung Quốc bị lật đổ thế kỉ 19. Quan hệ Trung-Nhật luôn có những bất đồng và căng thẳng. Những khẩu hiệu tuyên truyền mỉa mai hướng đến Nhật Bản trên các phương tiện truyền thông của Trung Quốc gần như không bao giờ cần một sự thúc đẩy chính thức từ chính phủ. Việc Trung Quốc từng bị chiếm đóng tàn ác bởi Nhật Bản sẽ còn được khắc ghi. Bởi vậy, Nhật trở thành công cụ bên ngoài hữu hiệu để chính phủ Trung Quốc đánh lạc hướng người dân khỏi những thiếu sót trong nội bộ đảng. Các lãnh đạo Trung Quốc có mối lo ngại an ninh chính đáng và có quyền tìm một vai trò quốc tế lớn hơn cho quốc gia, nhưng, khi bị ám ảnh bởi cách nghĩ và diễn giải mình là một nạn nhân, họ không tự thấy mình đang trở thành một kẻ bắt nạt ở châu Á.

THÁCH THỨC CỦA SỰ THAY ĐỔI

SỰ hăng hái của công chúng nhấn mạnh sự thực rằng sự kiên quyết gia tăng của Trung Quốc không chỉ đơn thuần là vấn đề đối ngoại. Joseph Fewsmith của Đại học Boston đã nói, “Mỗi khi nhìn thấy một thay đổi trong chính sách đối ngoại, tôi đều đặt câu hỏi ‘chuyện gì đang diễn ra trong nội bộ quốc gia?”” Trong nước, ông Tập đã thanh trừng các đối thủ, trấn áp nạn tham nhũng và nhiều người còn hy vọng ông sẽ thúc đẩy mạnh mẽ cải cách kinh tế và thương mại. Bởi vậy, một vài yếu tố đánh lạc hướng từ bên ngoài có thể có ích.

Củng cố quyền lực trong nước và gia tăng vị thể ngoài nước có mối quan hệ với nhau, nhưng chúng không đánh dấu sự trở lại của thói kiêu ngạo thời đế quốc. Trung Quốc đã hiểu rằng có những thứ họ cần từ bên ngoài như thị trường, ý tưởng, nguyên liệu thô, đầu tư và bởi vậy, nước này cũng hội nhập tốt, tuy đôi khi còn miễn cưỡng, vào các tổ chức quốc tế. Từ một nước không hiểu biết về hệ thống Westaphalian, Trung Quốc đến nay đã trở thành một thành viên tận tâm trong hệ thống. Trung Quốc nhìn nhận thế giới trong đó mình là một nước lớn giữa những nước nhỏ và bởi thế luôn có những lợi thế tất yếu. Trung Quốc đã chấp nhận sự ngang bằng giữa người trị vì của mình với các vị vua khác trên thế giới, mặc dù điều này không có nghĩa là họ chấp nhận việc nên có luật lệ trói buộc tất cả các nước.

Tuy nhiên, các lãnh đạo Trung Quốc không chấp nhận, và không thể chấp nhận một sự ngang hàng với người dân. Trung Quốc thời Mao Trạch Đông đã là một quốc gia mạnh nhưng lại là một xã hội suy yếu. Đến giờ, quốc gia mạnh ấy phải đối mặt với một xã hội cũng hùng mạnh hơn bao giờ hết. Trong xã hội hiện đại, các cá nhân có nhiều cách để thể hiện ý kiến và quan điểm của họ, bao gồm cả việc đòi hỏi một chính phủ có trách nhiệm hơn. Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng quốc gia không thể đoàn kết mà không có sự cầm quyền của chế độ một đảng mạnh mẽ và quyết đoán như một hoàng đế (và họ có thể đúng). Ngược lại, ngày càng có nhiều người (và nhiều nhà Trung Quốc học nước ngoài) tin rằng đất nước không thể trở nên hiện đại hoàn toàn nếu chế độ một đảng còn hiện hữu.

Những tham vọng của kẻ giàu và sự phẫn uất của kẻ bị đàn áp đang cùng tồn tại. Ở phía tây, những khu vực của người Hồi giáo và Tây Tạng liên tiếp bị chấn động bởi bất ổn. Tại những vùng phát triển hơn ở phía đông, hiệp ước hậu Thiên An Môn với quy định không can thiệp vào công việc chính trị cũng đang mất dần hiệu lực. Hơn nữa, những bất bình của công chúng về tham những, ô nhiễm và các vấn đề khác đang ngày càng quyết liệt. Tuy nhiên, thay vì cho phép người dân tham gia nhiều hơn vào hệ thống pháp quyền, lãnh đạo Trung Quốc lại hạn chế sự can thiệp của nhân dân khi đàn áp những nhà tư tưởng tự do, bởi họ tin rằng tiến hành cải cách thực sự và mang tính cấu trúc còn nguy hiểm hơn là không làm gì. Trên thực tế, không làm gì có lẽ còn nguy hiểm hơn. Những chia cắt sâu sắc trong nội bộ Trung Quốc sẽ ngày càng khó khăn hơn để che đậy bằng sự thịnh vượng đơn thuần.

Việc tìm cách xoa dịu công chúng trong nước bằng những lời khoác lác ở nước ngoài sẽ làm Trung Quốc tìm kiếm đồng minh và sự tôn trọng khó khăn hơn. Không những thế, vấn đề còn phức tạp hơn nhiều. Nhiều nước trên thế giới đã ngưỡng mộ và muốn áp dụng cách quản lý đất nước phi dân chủ nhưng hiệu quả của Trung Quóc để tăng trưởng trong hàng thế kỉ. Nếu chính trị nội bộ Trung Quốc kém ổn định, sự ngưỡng mộ của các nước sẽ suy giảm. Và kể cả với tình hình hiện tại, ngưỡng mộ cũng chưa chuyển thành tình cảm yêu mến, hay một cảm giác cùng chung lý tưởng dành cho Trung Quốc. Về kinh tế và quân sự, Trung Quốc đã và đang lấy lại vị trí trung tâm châu Á mà mình từng có trong lịch sử. Nhưng về mặt tri thức và đạo đức, nước này lại chưa có được vị thế tương xứng. Theo đánh giá của William Kirby tại Đại học Havard, trước kia, Trung Quốc từng có một quyền lực mềm mạnh mẽ, đến nỗi “các nước láng giềng tự mình chuyển đổi” để được giống như Trung Quốc. Hiện nay, ông Tập có thể biết cách khẳng định mình làm mình trở nên đáng sợ trong và ngoài nước, nhưng nếu thiếu đi khả năng thu phục và gây lôi cuốn, những sức mạnh ông đang có sẽ không bền vững.

Nếu Trung Quốc có thể giải quyết khủng hoảng bản sắc và một lần nữa trở thành nền văn minh lôi cuốn thay vì chỉ là một mô hình phát triển đáng khao khát, nước này sẽ có được sự tôn trọng và tầm ảnh hưởng như mong muốn. Nhưng điều này khó có thể xảy ra nếu Đảng Cộng sản không trao nhiều quyền hơn cho nhân dân và ông Tập đã làm rõ rằng việc này sẽ không xảy ra khi ông còn đang nắm quyền. Điều đáng lo ngại là Trung Quốc sẽ tìm kiếm quyền lực trên thế giới như một sự thay thế cho những thay đổi cơ bản trong nước. Nếu Trung Quốc không đạt được sự thay đổi này, vị trí cường quốc toàn cầu của Trung Quốc sẽ vẫn sáo rỗng, kém thu hút và mang tính đe dọa, và bởi thế, các làng giếng của nước này vẫn sẽ trông chờ vào nước Mỹ (bám lấy vạt áo của chú Sam: Hình tượng nhân cách hóa ám chỉ chính phủ Mỹ).

Trung Quốc không còn là “con tàu chiến hạng nhất điên cuồng” mà Macartney đã từng mô tả năm 1793. Dù có nhiều vấn đề, Trung Quốc ngày nay là một con tàu hiện đại và rực rỡ. Suốt 200 năm, trải qua nhiều thắng lợi và mất mát, Trung Quốc đã biến đổi bản sắc cốt lõi của mình, từ một cường quốc lạc hậu hướng nội trở thành một cường quốc hiện đại hướng ngoại. Kể từ năm 1978, Trung Quốc đã chứng tỏ một sự linh hoạt và quyết tâm không đổi trong công cuộc theo đuổi sức mạnh và sự thịnh vượng. Những mục tiêu này đến nay đã nằm trong tầm với và Trung Quốc đang gần đạt đến sự vĩ đại. Những thập kỉ tiếp theo sẽ còn khó khăn hơn nữa.

 

Chú thích:

[1] Thành phố Canton thuộc tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc đã có từ năm 214 trước Công Nguyên với tên Panyu. Bốn trăm năm sau, dân ở đây đã bắt đầu gọi nó là Quảng Châu để chỉ đây là thủ phủ của châu/quận Quảng. Người Bồ Đào Nha đã bắt đầu giao thương từ những năm 1500 và cái tên Cantão bắt đầu được sử dụng (sau đó biến đổi thành Canton).

[2] Nornam Foster là một kiến trúc sư người Anh với phong cách kiến trúc nguyên gốc đặc sắc và thời trang, ảnh hưởng máy móc của phong cách High-tech, rồi dần chuyển sang một phong cách tinh tế và hiện đại, sắc nét hơn. Sân bay của Trung Quốc thi công bởi Foster xem tại: http://www.archdaily.com/1339/beijing-airport-foster-partners#

[3] Turkestan (còn gọi là Turkistan hay Türkistan) là một khu vực ở Trung Á, ngày nay là khu vực mà chủ yếu là các dân tộc Turk sinh sống,  được phân chia thành Tây Turkestan (Turkestan thuộc Nga) và Đông Turkestan (Turkestan thuộc Trung Quốc).

[4] Người Dzungar là một tập hợp các bộ tộc Oirat nói tiếng Mông Cổ sống du canh du cư, gọi chung là bộ tộc Ööled. Sau khi Đế quốc Mông Cổ tan rã, họ trở lại đời sống du mục và đầu hàng nhà Thanh khi Hoàng đế khai triều Thanh là Hoàng Thái Cực chinh phạt các bộ tộc Mông Cổ. Họ được triều Thanh chuyển sang tên gọi Dzungar, mà chữ Hán là Chuẩn Cát Nhĩ (), để tránh gợi đến những ký ức xung đột Mãn – Mông trong quá khứ. Nhà Thanh đã tiến hành trấn áp (tàn sát) bộ tộc Dzungar hai lần năm 1752 và 175.

[5] Hòa ước Westphalia bao gồm một loạt các hiệp ước hòa bình được ký kết từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1648 tại Osnabrück và Münster, là văn bản đầu tiên xác nhận chủ thể trong quan hệ quốc tế là quốc gia. Khái niệm quốc gia – dân tộc (nation-state) cũng bước đầu được xác định và Hoà ước được xem là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của hệ thống quan hệ quốc tế hiện đại.

 

Translator: DK Linh

Editor: Crankie

Nguồn: Economist

Advertisements

Một suy nghĩ 1 thoughts on “Trung Quốc muốn gì?”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s